Nghệ thuật / Cảm hứng

Khung văn hóa và những điều tạo nên giá trị của bức họa triệu đô

Sep 05, 2019 | By Trang Ps

Từ thời thượng cổ, người Việt mới quen mua một bức họa dân gian giá vài trinh, nay là hai ngàn rưỡi. Thật khó mường tượng được những giá trị nghệ thuật cao hơn.

Khi họa sỹ trong nước bán được bức tranh vài ngàn USD, mọi người coi đấy là chuyện đặc biệt và quá mức với thu nhập thông thường. Khi bức họa “Hoa hướng dương” và “Bác sỹ Gachet” của Van Gogh được bán đấu giá từ 50 – 80 triệu USD, không còn ai hiểu ra sao nữa. Đến bức “Cậu bé với chiếc tẩu” của Picasso được bán với giá hơn 100 triệu USD, tiếng cười trừ đã thế chỗ cho sự ngờ vực.

sunflowers

Bức tranh “Hoa hướng dương” của Van Gogh được bán đấu giá từ 50 – 80 triệu USD.

Nhiều người thắc mắc bức tranh đẹp thế nào mà giá cao như vậy. Đó chính là những người nghĩ theo quan niệm thông thường: tranh càng đẹp thì giá càng cao. Song trên thực tế, đó là cái đẹp rất khó chiêm ngưỡng, gợi ra sự tò mò hơn là niềm đam mê.

Năm 1996, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh khó khăn lắm mới quyết định mua bức tranh “Vườn xuân Bắc Trung Nam” của họa sỹ Nguyễn Gia Trí với giá 600 triệu đồng, tương đương 100.000 USD lúc đó. Nhiều ý kiến phản đối cho rằng trong khi đồng bào đang trầm luân trong lũ lụt, hạn hán, không nên làm việc lãng phí như vậy. May thay, bức tranh vẫn được mua và đặt tại Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh.

Câu hỏi tại sao tranh của danh họa lại đắt giá không dễ trả lời.

Bức tranh “Vườn Xuân Bắc Nam”.

Chắc chắn giá tranh Van Gogh và Picasso luôn đạt kỷ lục không phải vì hai ông vẽ đẹp hơn các danh họa khác. Sự phát triển tự nhiên của đời sống văn hóa và thị trường nghệ thuật đã thúc đẩy giá tranh lên cao đến vậy. Nếu đặt nhu cầu ăn ở là quan trọng, chúng ta sẽ không thể hiểu được hiện tượng đó. Vua chúa chẳng thể hiểu được bọn thi sỹ ngông cuồng. Người kinh doanh chẳng thể hiểu đám nghệ sỹ theo đuổi cái ẩn danh phù du. Và dân chúng cũng chẳng thể hiểu được tính tiên lượng và quái dị của nghệ thuật.

Khi Van Gogh đi vẽ ngoài đồng ở Hà Lan, người cùng làng đã chặn lại và nói sao ông không đi cày cuốc mà vẽ vời nhăng nhít. Khi sống ông cũng chỉ bán được một bức tranh giá 300 USD. Trên thực tế, nghệ thuật vừa là vô giá vừa là vô ích, hoặc không có giá trị nhất định. Thang giá trị tính bằng tiền, chung quy là hoạt động của giới kinh doanh nghệ thuật, thấp thì bán cho những trí thức trung lưu, cao thì bán cho cánh tư sản. Và người mua cũng không mường tượng được món hàng đắt giá này sẽ đi đến đâu.

Bức “Cậu bé với chiếc tẩu” của Picasso cán mốc 104 triệu USD.

Nhưng quy luật “Người giàu trồng lau ra mía. Người nghèo trồng củ tía ra củ nâu” làm họ yên tâm. Không chỉ có nghệ thuật mà mọi hoạt động văn hóa thể thao ở các nước phát triển đều là kinh doanh bậc cao, không ô nhiễm, mà “nhất bản vạn lợi”.

Không chỉ có nghệ thuật mà mọi hoạt động văn hóa thể thao ở các nước phát triển đều là kinh doanh bậc cao, không ô nhiễm, mà “nhất bản vạn lợi”.

Việc đánh giá sáng tạo khoa học và nghệ thuật chỉ như các lao động thông thường dẫn đến sự không hiểu được tại sao các công trình phát minh khoa học và nghệ thuật lại đắt giá, do đó mà không biết thu lời, không trọng hiền tài, và chỉ có khả năng lao động giản đơn. Từ việc giặt vải bằng chày vồ và dùng chày khuấy nước, người phương Tây đã nghĩ ra máy giặt. Nếu không ở phương Đông vẫn cứ giặt bằng tay và chày vồ.

Bức “Chân dung bác sĩ Gachet” được bán vào năm 1990 với mức giá cao nhất mọi thời đại 82,5 triệu USD (khoảng 1.716 tỷ VNĐ).

Người Việt đã biết giặt sạch bằng bong bóng quả bồ hòn, nhưng lại chả tài nào nghe ra xà phòng, ô tô, xe máy, tivi, tủ lạnh, quạt, bàn là… Các tiện nghi công nghiệp sử dụng năng lượng điện, chúng ta tiếp nhận từ phương Tây mà không cần sáng chế gì cả. Họ thu lời chán chê từ xuất khẩu công nghiệp đến cho vay tiền, và cao hơn là buôn thông tin, tạo ra khoảng cách giàu nghèo giữa những nước công nghiệp phát triển và phần còn lại của thế giới.

Khi thị trường nghệ thuật Âu Mỹ phát đạt, thì thị trường nghệ thuật Việt Nam cũng dễ thở.

Ở những nước đó, hoạt động văn hóa lâu đời đã đẩy các sản phẩm văn hóa nghệ thuật lên mức cao chưa từng thấy và dường như là độc quyền ở phương Tây. Cho dù giá trị nghệ thuật của các dân tộc là không thể so sánh, song chúng cũng phản ánh những đời sống xã hội khác nhau.

Việc bán những cầu thủ bóng đá như Zidane, Ronaldo hơn 50 triệu USD đã từng bị coi là sự xỉ nhục những người lao động. Còn việc bán các tác phẩm hội họa đến hàng trăm triệu USD phần là kết quả tất yếu của những nền văn hóa tự xưng là đỉnh cao và chuẩn mực của nhân loại, là sự tích tụ dần dà có chiều sâu của hoạt động văn hóa, phần là giải tỏa những năng lượng thừa của xã hội tư bản giàu có, và sự đam mê điên rồ với các siêu sao.

Bức họa “Portrait of an Artist” của họa sĩ người Anh David Hockney cán mốc 90,3 triệu USD.

Những quy luật đó không thể không phổ cập cho các nền nghệ thuật phương Đông, nhưng có ảnh hưởng kích thích các thị trường nghệ thuật châu Á ở mức độ thấp. Ví dụ trong thang giá trị đối với hội họa, những năm 1996 – 1998 ở Pháp, về thời giá cao nhất là Van Gogh, thấp nhất là Lê Bá Đảng. Và khi thị trường nghệ thuật Âu Mỹ phát đạt, thì thị trường nghệ thuật Việt Nam cũng dễ thở.

Sự tăng giá cho một danh họa phụ thuộc phần nào vào thị trường nghệ thuật thế giới, mà trước tiên phụ thuộc vào sự đánh giá của chính dân tộc có danh họa đó.

Khi Van Gogh vẽ “Cánh đồng sau cơn mưa”, khắc họa đoàn tàu hỏa nhả khói đen trên cánh đồng sũng nước và xanh ngắt hoa mầu, cảnh tượng mơ mộng của thời tiền công nghiệp đó là một hình ảnh không bao giờ còn được trông thấy nữa. Ấy thế mà vào thời Van Gogh, không ít người còn dị ứng với tầu hỏa và xem điện như một thứ quái vật. Sự lưu giữ đời sống xã hội một cách thấu đạt tình người chỉ có thể thấy trong nghệ thuật, chính là giá trị của tranh Van Gogh.

Khi Leonardo vẽ Mona Lisa với nụ cười bí hiểm, ông đã biểu hiện được vẻ đẹp của trí tuệ con người, cũng sâu thẳm và vô cùng như thiên nhiên. Còn Picasso lại là hiện thân của sự liên tục sáng tạo và liên tục từ bỏ trong suốt thế kỷ 20. Những giá trị nghệ thuật và tư tưởng do các thiên tài đưa ra, có liên quan, nhưng không chặt chẽ đến các mức độ tiền bạc. Nếu xét về mô hình kim tự tháp cả về mặt tinh thần và tiền bạc, phần chóp sẽ thuộc về các danh nhân châu Âu, sau đó phần giữa và phần đáy mới là các châu lục khác. Dù nền kinh tế các nước khác có phát triển đến đâu, cũng khó lòng đảo lộn trật tự kim tự tháp này.

"Juin-Octobre 1985," by Chinese painter Zao Wou-Ki, pictured during a media preview for the piece at the Sotheby's auction house showroom in Hong Kong.

Bức tranh sơn dầu trị giá 65 triệu USD của họa sĩ người Pháp gốc Hoa Zao Wou-Ki.

Sự tăng giá cho một danh họa phụ thuộc phần nào vào thị trường nghệ thuật thế giới, mà trước tiên phụ thuộc vào sự đánh giá của chính dân tộc có danh họa đó. Người Thái Lan, Philippines, Trung Quốc, Nhật Bản đã mua tác phẩm của các họa sỹ của họ tới hàng triệu USD, nhằm bắt phương Tây phải đi theo thang giá đó. Nếu dân tộc không tự đánh giá và mua sáng tác của nghệ sỹ dân tộc mình thật cao thì hy vọng gì vào việc được người khác đánh giá.

Nếu dân tộc không tự đánh giá và mua sáng tác của nghệ sỹ dân tộc mình thật cao thì hy vọng gì vào người khác đánh giá.

Nhiều người ở Việt Nam đã có nhiều tiền. Họ đi picnic tốn kém, mua ô tô hàng trăm triệu đồng, mua salon vài nghìn USD. Nhưng việc tiêu vài nghìn USD để mua một bức tranh vẫn còn khá xa lạ. Tại châu Mỹ, những đồ công nghiệp như vậy rất rẻ, nhưng những triệu phú ở đó chẳng bao giờ xa xỉ như vậy, mà hàng tuần đi nghe nhạc giao hưởng, xem ca kịch opera, mua tranh, mua sách, du lịch sang các nước có văn hóa lâu đời.

Chúng ta đã thoát ra khỏi cảnh thiếu ăn thiếu mặc, nhưng thói quen của kẻ đói rét lâu năm đã giữ chúng ta lại với việc kiếm tiền, bằng mọi cách kiếm cho thật nhiều tiền, cất vào tủ khóa lại và cam phận là kẻ nghèo đói văn hóa.

Bài: PHAN CẨM THƯỢNG
(Theo Tạp Chí Mỹ Thuật)

 
Back to top