Lan Viên Cố Tích bên dòng sông Hương
Chỉ khi bước qua cánh cổng gỗ kiên cố, đi sâu vào khoảng sân ngập nắng, viễn khách mới thực sự nhận ra, một nỗ lực bảo tồn mang tính “cá nhân” có thể “lộng lẫy” và bền bỉ đến nhường nào.

Bên dòng sông Hương, không gian sống của Giáo sư, Tiến sĩ Thái Kim Lan cũng chính là một bảo tàng tư nhân. Đó là Lan Viên Cố Tích, gồm nhà vườn Thái tộc từ đường và Bảo tàng Gốm cổ sông Hương, nơi lưu giữ hơn 5.000 cổ vật được trục vớt từ lòng sông và khai quật tại các di chỉ quanh Huế.
Đánh thức tâm khảm
Gian nhà vườn rộng hơn 4.000 mét vuông hiện ra với tất cả những gì đặc trưng của kiến trúc cư trú Huế: nhà rường, vườn cây rợp bóng, ánh sáng vàng nhạt len qua từng khe cửa, những hàng lu nối dài… Một không gian mang lại cảm giác “ấm áp và đoàn thể”, như cách chủ nhân của nó miêu tả.
Cô chia sẻ, suốt nhiều năm sống tại châu Âu, trong tâm khảm mình, cô luôn thao thức với khu vườn, với ngôi nhà, với truyền thống và gia phong – bởi cả tuổi thơ gắn chặt với nơi này. Đó là những đêm nằm nghe mưa rơi ngoài hiên, tiếng lá chuối xào xạc; là giọng ru của bà đưa vào giấc ngủ; là những buổi sáng chạy vội ra vườn, thấy hoa cau nở trắng và hít đầy hương thơm lan kín không gian; là những buổi chiều ngồi bên sông đợi mẹ đi chợ về. Và cả những mùa hè, khi đứa trẻ ấy vừa tan học, vội quăng nón, lao vào bếp lấy mủ mít rồi chạy ra vườn chọc ve.



“Tuổi thơ ấy đẹp vô cùng, gợi nhớ một thời trẻ rực rỡ. Những kỷ niệm ấy in sâu, để không gian này trở thành không gian của tâm thức, của tuổi thơ tôi”, cô kể trong giọng điệu phấn khởi và ánh mắt lấp lánh như thể cả tuổi thơ đang hiện hữu quanh mình.
Chính vì thế, căn nhà này luôn mang lại cảm giác được che chở trong cô. Nhưng nó cũng đồng thời chứa đựng hai trạng thái: cô đơn và đoàn tụ. “Khi cô đơn, không gian này khiến mình càng thêm cô đơn; mình có thể ngồi trong xó xỉnh nào đó để buồn vô hạn. Nhưng khi bà con, anh chị em tụ họp vào ngày giỗ, lễ Tết, thì đây lại là thiên đường của sum họp, của tiếng cười”, cô nói.
Cũng vì vậy, cô thường xuyên tổ chức những nghi lễ truyền thống như Lễ Thượng Nêu, Lễ Hạ Nêu, như một cách bày tỏ nỗi nhớ và gìn giữ bản sắc văn hóa của tổ tiên, của đất nước. Càng lắng nghe, người viết càng thấu hiểu nỗi thương nhớ về một không gian tưởng chừng chỉ còn trong quá khứ, và cũng chính là động lực thôi thúc cô trở về quê hương.
Cô từng chia sẻ: “Tôi muốn chính mình, thay cho Thái tộc từ đường, qua nhiều thế hệ, tích lũy cả vật chất lẫn tinh thần, để “trở dạ” sinh thành một diện mạo mới, một địa chỉ văn hóa mới, góp phần làm dày thêm di sản và gia sản của văn hóa Huế trên dải đất gấm vóc này”.
“Dòng sông vắt ngang qua thành phố, ôm giữ tất cả những trầm tích, từ sinh hoạt thường nhật đến sinh kế, từ vật chất đến tinh thần. Thành thử, gốm được tìm thấy trong lòng sông Hương cũng là một lẽ tự nhiên”
Khi thành lập bảo tàng ngay trên khu đất gia đình, cô như được đối thoại với những “người ngỡ đã mất từ lâu”. Cô nhìn thấy cha mẹ, tổ tiên trong từng cột kèo, trong mỗi góc nhà, qua những câu hỏi: “Tại sao họ đặt cột ngang dọc như vậy?”, “Vì sao ngôi nhà lại có chiều cao như thế?”. Chiếc giường cũng là nơi cô yêu thích nhất, dẫu mang dáng dấp hiện đại, nó vẫn nằm trong một không gian cổ, nên dường như cũng mang theo phong vị của ngày trước, chỉ khác là không còn được nằm cạnh bà nội nữa. “Nhưng tôi luôn có cảm giác mọi người đang ôm mình, rất thương mình”, cô nói.
Cứ như thế, trong chính không gian ấy, cô dần tỏ tường hơn những trăn trở, và cả những điều tưởng như đã mất từ lâu.


“Xếp tàn y lại, để dành hơi”
Trong diễn trình tư duy truyền thống, người Huế từ bao đời đã tổ chức đời sống xoay quanh sông Hương. Từ sinh kế như canh tác, chài lưới đến các thực hành nghi lễ, ca nhạc và tín ngưỡng, mọi hoạt động dường như đều ít nhiều gắn với dòng sông này. Bởi vậy, việc một bảo tàng nép mình bên bờ sông Hương có thể được lý giải như một cách lưu giữ những trầm tích của đất Cố đô.
Theo Giáo sư, Tiến sĩ Thái Kim Lan, Huế dường như mang một “ân huệ” đặc biệt của tự nhiên khi sông Hương chảy xuyên qua thành phố. “Dòng sông vắt ngang qua thành phố, ôm giữ tất cả những trầm tích, từ sinh hoạt thường nhật đến sinh kế, từ vật chất đến tinh thần. Thành thử, gốm được tìm thấy trong lòng sông Hương cũng là một lẽ tự nhiên”. Điều này càng trở nên rõ nét sau trận lũ lịch sử vừa qua. Cô kể: “Tôi mới loay hoay trong vườn thì nước đã lên tới đầu gối, cửa nhà sập, gốm và cổ vật đều trôi ra vườn. Tôi đứng ngay trong nhà mà không thể chạy ra nhặt lại. Khi tận mắt thấy gốm trôi ra sông Hương, tôi mới hiểu vì sao gốm nằm trong lòng sông nhiều đến thế”.


Bảo tàng Gốm cổ sông Hương được tổ chức theo một trật tự chặt chẽ. Ngay từ lối vào, dãy lu gốm xếp thành hàng dài như một lời gợi mở, càng tiến sâu vào bên trong, các hiện vật quý càng hiện ra, nổi bật là khu vực phía sau ngôi từ đường với hàng nghìn món đồ được phân loại theo niên đại và kiểu thức. Tất cả đều được sắp xếp ngăn nắp, đi kèm những thẻ tre ghi chú.
Hiện nay, bảo tàng lưu giữ hàng nghìn hiện vật từ gốm, đồng, gỗ đến các vật dụng khảm trai. Trong đó, gốm chiếm số lượng lớn nhất, trải dài từ gốm thô, đất nung, sành đến men tinh xảo, thuộc nhiều niên đại khác nhau. Hình thức và công năng của chúng cũng phản ánh cụ thể đời sống sinh hoạt của cư dân qua từng thời kỳ.


Để thành lập bảo tàng này, cô đã mời các nhà khoa học thẩm định niên đại cho bộ sưu tập. Kết quả cho thấy các hiện vật trải dài từ văn hóa Sa Huỳnh, Chăm, qua các triều Lý, Trần, Lê đến Nguyễn. Cô chia sẻ: “Những cổ vật gốm sứ vớt từ sông Hương đã tạo nên hình hài và phản chiếu lịch sử của vùng đất. Chúng tự thân kể câu chuyện của mình, giúp ta hiểu hơn về giá trị văn hóa, lịch sử của Cố đô”.
“Ai cũng nói tuổi của tôi là tuổi nghỉ hưu, nhưng với tôi thì không. Tôi chưa từng nghỉ, vẫn nghĩ về công việc mỗi ngày. Bảo tàng giờ đây đã thực sự trở thành một địa chỉ văn hóa. Còn khu vườn này, với tôi, là một thế giới mình hằng mong ước”
Điều đặc biệt hơn cả của nơi đây là sự vắng bóng những tấm bảng “không được chạm vào hiện vật”. Bảo tàng cho phép khách tham quan ngắm nhìn ở khoảng cách gần, thậm chí chạm nhẹ để cảm nhận. Dù không khuyến khích việc tiếp xúc trực tiếp, cách trưng bày này vẫn mở ra một khả năng tiếp cận sâu hơn với lịch sử, qua chính bề mặt xù xì của gốm. Qua đó, cô mong muốn nơi đây không chỉ là một bảo tàng, mà còn là một địa chỉ văn hóa sống động với nhiều hoạt động văn hóa, vừa để giữ gìn, vừa nối kết quá khứ và hiện tại.

“Ở thời điểm này, còn điều gì khiến cô thao thức không?” – người viết hỏi.
“Ai cũng nói tuổi của tôi là tuổi nghỉ hưu, nhưng với tôi thì không. Tôi chưa từng nghỉ, vẫn nghĩ về công việc mỗi ngày. Bảo tàng giờ đây đã thực sự trở thành một địa chỉ văn hóa. Còn khu vườn này, với tôi, là một thế giới mình hằng mong ước. Có những lúc mình ở một mình, nhưng cũng có thể bước ra ngoài và gặp gỡ mọi người. Mỗi buổi sáng, khi ra vườn và nhìn từng cái cây, tôi có cảm giác chúng đang trả lời mình. Mỗi loài cây cỏ đều có đời sống riêng. Những câu trả lời ấy hiện ra qua bóng cây ngoài sân, qua những cuộc viếng thăm của du khách.
Tôi đã trải nghiệm Huế từ rất lâu, nên luôn mong thành phố này có những hoạt động văn hóa đẹp và xứng tầm. Điều tôi theo đuổi là làm sao để Huế bộc lộ được vẻ đẹp vốn có của chính nó, chứ không phải do mình tạo ra. Quan trọng là phải khám phá và trình bày vẻ đẹp ấy, để nó trở thành một chiêm nghiệm chung cho mọi người”.
Sau buổi trò chuyện, điều đọng lại rõ nhất trong hình dung của người viết vẫn là hình ảnh một người phụ nữ ngồi trong khoảng sân rộng của Lan Viên Cố Tích, lặng lẽ quan sát vạn vật; nhìn Huế như một cánh cửa vừa rộng vừa hẹp, và bền bỉ tận hiến tình yêu của mình cho văn hóa.

Bài: Phương Uyên
Ảnh: Trung Phan














