Bầu không khí (Kỳ 3): “Đời sống” trong kiến trúc của Trần Quốc Bảo
“Rốt cuộc thì chúng ta cần gì ở ngôi nhà của mình?”. Ta nghĩ gì về đời sống trong ngôi nhà của chính ta, và kiến trúc sư nghĩ suy gì về đời sống sẽ diễn ra trong ngôi nhà mà họ kiến tạo?

Bầu không khí là loạt bài phỏng vấn, tìm về những rung cảm vô hình nhưng cốt yếu trong kiến trúc. Chúng tôi tin rằng, kiến trúc không chỉ là khối hình, mà còn là một bầu không khí. Như Lão Tử đã từng minh triết: “Khoét cửa nẻo làm buồng then, nhờ khoảng không mới có công dụng của buồng then”. Chính cái “không” ấy, khoảng trống vô hình, lại là phần quan trọng nhất, định hình trải nghiệm và cảm xúc mà kiến trúc mang lại.
Trong loạt bài này, chúng tôi sẽ trò chuyện cùng các kiến trúc sư Việt, lắng nghe sẻ chia về những khoảnh khắc mà họ đã “thở” cùng không gian, những trầm tư và niềm vui khi kiến tạo. Đây là nơi ta tìm về sự ôn nhu giản dị và tình cảm ẩn chứa trong bầu không khí kiến trúc, mở ra một góc nhìn tĩnh về cái đẹp vô hình nhưng có sức neo giữ qua thời gian.

Là người sáng lập Lab.A.A, kiến trúc sư Trần Quốc Bảo sở hữu nền tảng vững chắc từ ENSA Paris La Villette (Pháp) cùng kinh nghiệm làm việc tại các văn phòng danh tiếng ở cả Pháp và Việt Nam (Peripheriques AFJA, IPSO FACTO, Nhabe scholae, H.a workshop).
Buổi gặp gỡ diễn ra tại văn phòng của anh ở Sài Gòn, một không gian tĩnh lặng và tinh giản, gói gọn triết lý thiết kế mà anh theo đuổi. Từ câu hỏi đơn giản “Nhà là gì?”, cuộc đối thoại đã dẫn dắt chúng tôi khám phá hành trình từ những nét vẽ đầu tiên cho đến ý niệm về “khoảng trống” trong một ngôi nhà.

Anh thường xuyên tiếp xúc với các khách hàng có nhu cầu xây dựng nhà ở. Anh nhận thấy đâu là điểm khởi đầu phổ biến nhất, và cũng là thách thức lớn nhất, khi họ bắt đầu hình dung về ngôi nhà của mình?
Có một điểm chung khá thú vị. Họ đều chia sẻ với tôi một phác thảo mặt bằng và nhờ tôi góp ý. Tôi cũng hiểu là từ góc nhìn của một người không chuyên, sơ phác này chỉ đơn thuần giúp họ hình dung về chuyện sắp đặt các công năng của ngôi nhà trên mặt bằng và có một cơ sở thảo luận với các bên chuyên môn.
Tất nhiên tôi sẽ không đánh giá trên mặt bằng đó, bởi cả tôi và họ đều biết đó không phải là thiết kế. Nhưng nhìn vào phác thảo, tôi tự ngẫm liệu họ có bỏ quên điều gì đó khi nghĩ về ngôi nhà của mình không.
Vì vậy, câu hỏi đầu tiên của tôi (ngoài những thông tin cơ bản) luôn là: “Anh, chị hình dung như thế nào về đời sống trong ngôi nhà tương lai? Điều gì là quan trọng đối với anh, chị?”. Tôi nhận ra ở họ một sự bối rối trước những câu hỏi như vậy, bởi có lẽ họ chưa từng suy nghĩ sâu về điều đó.
Rốt cuộc thì chúng ta cần gì ở ngôi nhà của mình? Là một nơi trú ngụ đáp ứng những nhu cầu cơ bản như một phòng khách sạn, là sự tiện nghi như một căn hộ chung cư, là không gian để thể hiện cái tôi cá tính, hay chiếc vỏ bọc để giao tiếp và phô diễn với xã hội. Không có quan điểm nào là đúng hay sai bởi nhu cầu của mỗi người là khác nhau.

Nếu vượt lên khỏi mặt bằng và công năng, “đời sống” mà anh tìm kiếm trong một ngôi nhà được biểu hiện cụ thể qua những trải nghiệm như thế nào?
Khi nghĩ về ngôi nhà, tôi quan tâm nhiều hơn đến đời sống. Đó là việc hình dung về những cảm xúc thân thuộc, về sự thỏa mãn với mỗi trải nghiệm trong sinh hoạt thường nhật và về những kỷ niệm hạnh phúc mà mình có thể có được cùng gia đình.
Ngôi nhà sẽ đón tôi trở về mỗi ngày với giàn hoa giấy phủ rợp chiếc cổng bằng gỗ mộc, và khoảng sân lát đá thô xen lẫn cỏ cây. Phòng sinh hoạt mở ra một khoảng hiên rộng, mẹ ngồi đọc sách trên chiếc ghế bập bênh quen thuộc, còn lũ trẻ chắc hẳn thích chạy chơi ngoài trời, dưới bóng cây lớn và căn nhà gỗ nhỏ nơi góc vườn.
Căn bếp nhìn ra khoảng xanh với những bóng nắng chiếu qua tán cây vươn sát cửa sổ, đặt cạnh vài chậu rau mùi với hương thơm nhẹ gợi cảm hứng nấu nướng. Phòng ngủ với ban công mở ra hướng đông đón những tia nắng dịu buổi sớm len qua lớp rèm voan, mang theo năng lượng để khởi đầu một ngày mới.
Khi tư vấn khách hàng, tôi luôn khơi gợi để có thể lắng nghe được những câu chuyện như vậy từ họ. Đó là chiếc la bàn và niềm cảm hứng để dẫn dắt cho mỗi cân nhắc, quyết định sau này. Riêng với kiến trúc nhà ở, tôi thích bắt đầu với những điều nhỏ bé.

Anh vừa nhắc đến “khoảng hiên”. Đây dường như là một không gian “đệm” rất quan trọng nhưng thường bị xem nhẹ. Anh có thể phân tích sâu hơn về vai trò của nó trong kiến trúc nhà ở Việt Nam, đặc biệt khi so sánh với bối cảnh hiện đại không?
Đây là một quan sát thú vị. Nhà ở phương Tây hay tách biệt phần hiên nhà và phòng khách. Từ hiên mở cửa bước vào là phần sảnh đón (hall/entry way), không gian này không nhìn trực diện vào phòng khách, bên cạnh là tủ giày và nhà vệ sinh, có diện tích thì bố trí thêm một phòng để giày dép kiêm kho (mud room/storage). Xét về mặt tiện nghi sử dụng, một sảnh vào tách biệt vẫn sạch sẽ và trang trọng hơn, vừa đảm bảo cho sự riêng tư, vừa giải quyết một cách khoa học cho “chu trình vào nhà”.
Trong khi đó, kiểu bố trí phổ biến trong nhà ở Việt Nam là phòng khách mở rộng kết nối với hiên và sân trước. Kiểu hiên – phòng khách mở rộng này cũng có cái hay, không khí ngoài trời có thể tràn vào nhà, đời sống trong ngôi nhà cũng có thể trải dài ra ngoài sân vườn một cách tự nhiên. Hiên vừa là sảnh đón tiếp, vừa là không gian sinh hoạt. Ngôi nhà nhờ thế cũng trở nên cởi mở và nồng hậu với khách đến chơi hơn.
Hiên còn là một không gian của nghi thức xã hội rất tinh tế. Người ta đón khách hay tiễn khách cũng ở cái hiên nhà. Nhà ở quê có sân vườn, khách quen hay hàng xóm tới nhà thường đi thẳng vào trong sân, đứng ở hiên mà gọi ới vào. Bởi hiên nằm ngoài cửa, nên khách đi vào không có cảm giác xâm phạm đời sống riêng tư. Những cuộc tiếp chuyện ngắn đôi khi diễn ra ở hiên nhà, người ta cởi vội đôi dép, ngồi trên bậc thềm, rồi sau cứ thế xỏ dép mà đi.
Ngay cả lúc chia tay, khách đến nhà chơi, lúc về thường được tiễn ra hiên, nấn ná thêm vài câu chuyện trong khi khách ngồi mang giày. Sự chia tay nhờ thế mà bớt đường đột, cả chủ nhà và khách đều cảm thấy thoải mái hơn. Cái hiên, vốn không hẳn bên trong và cũng không hẳn bên ngoài, tạo cho người ta tâm lý cởi mở với sự giao tiếp.

Tư duy về không gian “đệm” này có được áp dụng cho các cấu trúc theo chiều đứng, như cầu thang không? Chúng ta dường như đã quen với việc xem cầu thang chỉ là một phương tiện di chuyển thuần tuý.
Trong chuyện thiết kế cầu thang, mỗi người sẽ có một mối quan tâm khác nhau. Chủ nhà thì quan tâm chuyện thang có chắc chắn, vật liệu có bền đẹp hay không? Thầy phong thuỷ thì đếm bậc xem hướng, kiến trúc sư thì suy nghĩ đến việc bố trí thang cho hợp công năng, tính toán kết cấu, thẩm mĩ.
Nếu đi xa hơn, người thiết kế còn có thể đặt tâm tư vào câu chuyện sử dụng, về cách cái thang tham gia vào đời sống của con người. Cầu thang cũng là một không gian, một phần của ngôi nhà.
“Khoảng trống là nơi kết nối, tạo ra các điểm gặp gỡ. Trong khi các căn phòng là những khối hộp đóng kín, các không gian còn lại giữa các phòng là nơi mọi người va chạm, tương tác”
Thử tưởng tượng một không gian di chuyển có những ô cửa sổ ngắm nhìn khu vườn, với bậc nghỉ mở rộng kèm một giá sách và chiếc ghế con, hay một cầu thang mở nằm ở trung tâm với nhiều góc tương tác với các không gian sinh hoạt của ngôi nhà, các thành viên trong gia đình có thể quan sát, nói chuyện với nhau kể cả khi đang di chuyển. Những bậc thang đầu tiên có thể được làm lớn hơn để trở thành chỗ ngồi, người ta có thể mượn nó như cái băng ghế hay thậm chí cái phản nằm chơi.
Có những không gian, góc nhìn và công năng đặc biệt chỉ có thể bố trí trên cầu thang, nên thật đáng tiếc nếu làm chiếc thang chỉ để phục vụ cho việc di chuyển. Một chiếc thang được thiết kế phù hợp có thể giúp các không gian trong ngôi nhà trở nên gắn kết hơn, và đời sống của con người trong đó cũng thêm phần thú vị hơn.

Chúng ta hãy nói về “khoảng trống”. Ở đô thị, có một xu hướng tận dụng mái bê tông làm sân thượng. Nhưng dường như chúng thường không thành công. Theo anh, tại sao những không gian này thường ít được quan tâm và giải pháp nằm ở đâu?
Mái bê tông cốt thép vẫn là một xu hướng ưa thích. Nhu cầu tận dụng mái nhà để tạo ra không gian sinh hoạt ngoài trời là hợp lý trong bối cảnh đô thị chật hẹp, mái nhà là nơi đón được nhiều nắng và có tầm nhìn thoáng nhất.
Tuy nhiên, thực tế, nhiều mái nhà được đổ mê toàn bộ với mục đích làm sân thượng, nhưng cuối cùng lại bị bỏ trống trơ trọi. Theo tôi, có vài nguyên nhân.
Thứ nhất, khi đưa lên quá cao, việc leo cầu thang tạo ra một rào cản về tâm lý.
Thứ hai, không gian được thiết kế thiếu tiện nghi. Khi trên tầng sân thượng không có những không gian có mái che hay không gian trong nhà để tạo nhiều mức độ che chắn cũng như cảm giác trong-ngoài, không gian sẽ trở nên khó sử dụng, nhất là với thời tiết nắng gắt mưa nhiều như Việt Nam.
Và quan trọng nhất đó là sân thượng tách biệt với đời sống của ngôi nhà. Sân thượng nằm độc lập trên cùng, không có không gian sinh hoạt nào liền kề sẽ ít được lui tới. Sự gắn kết hay tính hấp dẫn của không gian này bị mất đi. Sân thượng không nhất thiết phải đặt trên nóc nhà, diện tích cũng nên vừa đủ, quan trọng là nó phải được tổ chức hợp lý và kết nối tốt với các không gian sinh hoạt khác.

Nếu sân thượng không phải là giải pháp tối ưu, vậy “khoảng trống” hiệu quả nên tồn tại ở đâu trong nhà ở đô thị? Anh có thể chia sẻ thêm về vai trò của sân trong, mà chúng ta thường thấy trong các cấu trúc nhà phố cổ?
Sân trong đang dần được ưa chuộng, thay thế cho khoảng sân trước truyền thống. Đa phần vì cấu trúc nhà phố thường dài và hẹp nên cần sân trong hay giếng trời để tăng thông thoáng và ánh sáng. Thêm nữa, khoảng không gian ngoài trời dạng sân trong sẽ riêng tư và an toàn hơn.
Cũng giống như sân trước luôn đi liền với khoảng hiên, sân trong cũng cần một không gian đệm ngăn cách giữa bên trong và bên ngoài. Lý do khá đơn giản, thời tiết ở xứ mình lúc mưa lúc nắng, ngồi hẳn ngoài trời thì mưa tạt, nắng vỡ đầu, đóng cửa trong nhà thì lại bí bức. Ngồi dưới hàng hiên, gió thoang thoảng, ngắm cây cỏ, ngắm mưa rơi thì vẹn cả đôi đường.

Khoảng sân được bao bọc bởi các không gian sinh hoạt với sự liên kết mạnh mẽ lại càng tốt. Những chiếc cửa luôn mở để có thể tiếp cận dễ dàng, khoảng sân có thể luôn được nhìn thấy hoặc đi ngang qua trong đời sống thường nhật. Lúc đó, không gian ngoài trời này sẽ có cơ hội được sử dụng thường xuyên hơn, phát huy cả vai trò là một “trái tim” điều tiết vi khí hậu cũng như điểm kết nối các không gian trong nhà ở.
Khi đến Hội An, tôi mê mẩn những khoảng sân trong giữa ngôi nhà. Chúng như một ốc đảo tĩnh mịch giữa lòng phố cổ ồn ào. Một khung trời nho nhỏ của ánh sáng, cây xanh, nhưng lại là cái tâm của ngôi nhà. Gọi là “cái tâm” bởi nó “nuôi” những không gian xung quanh bằng nắng gió và khí trời. Không có nó, những ngôi nhà ống dài này sẽ “chết” trong bóng tối và sự bí bức.

Với bối cảnh “tấc đất tấc vàng”, việc thuyết phục chủ nhà dành diện tích cho “khoảng trống” chắc chắn rất khó khăn. Anh định nghĩa thế nào về giá trị của những khoảng trống?
Sự mâu thuẫn giữa việc đáp ứng diện tích sử dụng và kiến tạo không gian sống chất lượng là một vấn đề mà nhà ở đô thị hay phải đối mặt.
Khoảng trống trong kiến trúc được hiểu như phần rỗng tồn tại trong một cấu trúc không gian. Nó hay bị đánh đồng với sự thiếu vắng của vật chất và sự kiện. Thực ra, khái niệm này trong kiến trúc chỉ ám chỉ sự rỗng về mặt hình thức. Khoảng trống vẫn có thể được lấp đầy bởi không khí, ánh sáng, bởi nội thất và các hoạt động của con người.
Nhìn lại trong kiến trúc Việt Nam, khoảng trống đã được sử dụng khá nhiều. Khung nhà gỗ truyền thống không có vách ngăn, không gian bên dưới lớp mái có thể coi như một khoảng trống lớn, thông suốt. Nhà ở phố cổ Hội An hay nhà ống được cấu trúc xoay quanh các sân trong, đó cũng là một dạng của khoảng trống.
Có người cho rằng khoảng trống là lãng phí. Thế nhưng nếu nhìn vào các mô hình này, có thể thấy khoảng trống mang lại nhiều giá trị hơn việc nó làm mất đi một vài mét vuông sàn sử dụng.

Giá trị dễ thấy nhất là thông thoáng và chiếu sáng tự nhiên. Nhưng quan trọng hơn, khoảng trống là nơi kết nối, tạo ra các điểm gặp gỡ. Trong khi các căn phòng là những khối hộp đóng kín, các không gian còn lại giữa các phòng là nơi mọi người va chạm, tương tác. Đời sống tinh thần của ngôi nhà được nuôi dưỡng bởi các liên kết này.
Cuối cùng, khoảng trống làm cho không gian rộng hơn. Nhà ở diện tích nhỏ càng nên dành chỗ cho những khoảng trống. Ngôi nhà sẽ như nhỏ hơn khi tầm mắt bị ngắt lại bởi lớp sàn dày và đặc. Việc tạo ra các khoảng trống cho phép không gian phát triển liên tục, mở rộng nhận thức về chiều sâu và quy mô của ngôi nhà.
“Khi tính toán đến chất lượng không gian sống, yếu tố diện tích thường phải đặt dưới các yếu tố khác như sự thông thoáng, sự kết nối”
Vậy để tạo ra những khoảng trống có giá trị đó, theo kinh nghiệm của anh, người thiết kế và cả chủ nhà cần thay đổi cách nhìn nhận như thế nào?
Đầu tiên là phải hiểu về nhu cầu sử dụng. Vấn đề hay được bàn tới là diện tích cho từng phòng ốc. Người thiết kế cần hiểu nhu cầu thực sự để định hình một diện tích cơ bản. Một phòng ngủ có thể thiết kế gói gọn trong 9 mét vuông mà vẫn đảm bảo chức năng. Không gian tiếp khách đôi khi không còn quá cần thiết, có thể nhập chung. Khi tính toán đến chất lượng không gian sống, yếu tố diện tích thường phải đặt dưới các yếu tố khác như sự thông thoáng, sự kết nối.
Thứ hai là thay đổi quan niệm về “phòng”. Một định kiến phổ biến là mọi người hay hình dung về các không gian chức năng dưới dạng “phòng” thay vì “không gian”. Chúng ta quen gọi “phòng ngủ” thay vì “không gian nghỉ ngơi”. Khi mang theo định nghĩa “phòng”, các chức năng vô tình bị gói gọn trong một giới hạn cố định. Đối với nhà ở nhỏ, việc mở các không gian chung sẽ tạo cơ hội cho việc bố trí khoảng trống.
Như kiến trúc sư Rem Koolhaas từng nói: “Nơi nào không có gì cả, mọi thứ đều có thể xảy ra. Nơi nào kiến trúc đã tồn tại, không gì khác có thể chen vào”. Trong khi các phòng riêng giải quyết chức năng cư trú đơn thuần, các khoảng trống còn lại tạo cơ hội cho những trải nghiệm đời sống thú vị hơn.

Tư duy về “đời sống” này có thể mở rộng ra quy mô đô thị không? Anh có những ghi chép về Sài Gòn, về hẻm và vỉa hè. Theo anh, di sản thực sự của thành phố này là gì, ngoài những công trình biểu tượng?
Sài Gòn là một thành phố giàu bản sắc. Nhưng chúng ta ít khi ý thức được hết những gì chúng ta đang có. Cấu trúc đô thị đặc trưng với mật độ dày đặc, cuộc sống đường phố xô bồ, hệ thống ngóc ngách len lỏi… Liệu có quá phi lý khi tôi gọi đây là những di sản Sài Gòn đang nắm giữ không?
Hình thái đô thị tự phát này chính là đơn vị cấu thành nên thành phố. Chiếm hơn 85% mạng lưới giao thông, hệ thống hẻm là đặc trưng của Sài Gòn. Nếu nhìn hẻm từ góc nhìn văn hóa, sẽ thấy không gian khiêm tốn này là nơi sản sinh cuộc sống thường nhật, nơi quan sát được đặc trưng văn hóa chòm xóm. Trong những con hẻm 2–3 mét, ta có một không gian thực sự sống động. Nó vừa là không gian công cộng, vừa là không gian cơi nới, vừa là không gian chung.

Vỉa hè cũng cho ta một câu chuyện tương tự. Đường sá không chỉ là cơ sở hạ tầng, mà nó là một phần của đô thị, gắn kết với kinh tế, xã hội. Trong một ngày, vỉa hè là “sân khấu” cho nhiều phân cảnh như tập thể dục, buôn bán, đậu xe, và tối đến là nơi bọn trẻ chơi đùa, chòm xóm tán gẫu.
Những khu đô thị mới được quy hoạch theo mô hình hiện đại lại quá khác biệt. Mọi thứ quy chuẩn, sạch sẽ nhưng lại thiếu đi cuộc sống xã hội, làm nó trở nên tẻ nhạt. Hiện đại hóa là tất yếu, nhưng những cấu trúc đô thị như hẻm, vỉa hè cần được đối xử như “di sản đô thị”. Không phải để bảo quản trong bảo tàng, mà là làm sao khiến nó hòa nhập, phù hợp với cuộc sống hiện đại mà vẫn giữ được nét riêng cốt lõi về tính xã hội.





