Xuân Hinh – Kẻ chọc cười dân gian
Cuộc “trà dư tửu hậu” với nghệ sĩ Xuân Hinh luôn là dịp để gom nhặt vốn liếng văn hóa đất Việt: từ tính cách “thẳng tưng”, lối xưng hô dân dã khi bố con, lúc tao mày gần gũi, cho đến khả năng “thở ra thơ”, kể chuyện bằng ca dao tục ngữ, không câu nào lặp lại.

Xin chào nghệ sĩ Xuân Hinh! Bác là nghệ sĩ gạo cội góp mặt tại chương trình V Concert – Rạng rỡ Việt Nam 2025 vào đầu tháng 8. Cảm giác của bác sau tròn 50 năm làm nghệ thuật có gì khác so với thuở đầu tiên, được góp mặt trong ngày hội lớn của Đất nước?
Vừa qua, tôi cũng diễn chương trình của cả Nhà hát Ca múa nhạc Thăng Long, trong đó có bài Xẩm Hà Nội. Kết hợp hát xẩm với rap, tôi thấy khá hấp dẫn. Hai là V Concert ở Đông Anh, cùng với nhiều nghệ sĩ như Đức Tuấn, Đen, Hòa Minzy. Nhớ lại, đa số ngày xưa tôi diễn hài nhiều, những chương trình ngày Tết, hoặc những chương trình làm vui cho bà con hơn là những chương trình nghiêm trang, trọng đại.

Đi đâu người ta cũng gọi bác là “vua hài đất Bắc”. Nghe danh xưng ấy qua rất nhiều năm, bác thấy sao?
Tôi ngượng đấy, khi được gọi là danh hài nhất mọi thời đại, nhất thế kỷ 20, vua hề chèo… Tôi bảo ban tổ chức cứ giới thiệu tôi bình thường thôi, không cần khua chiêng múa trống. Tôi thích được gọi là Xuân Hinh – Kẻ chọc cười dân gian, đại diện cho tầng lớp bình dân, những người nghèo khổ là vui rồi.
Bây giờ mỗi năm một yếu, quý khán giả còn trân trọng, quý mến tôi thì cái gì cố được tôi sẽ làm. Làm gì cũng làm bằng hết tâm của mình, chứ không mong cái gì quá, không cần nổi tiếng nữa làm gì. Đi diễn cùng tụi trẻ thì tôi kêu chúng thoải mái, động viên chúng. Con hơn cha là nhà có phúc, thế hệ sau hơn thế hệ trước thì đất nước nó mới vinh quang. Ngày xưa các cụ làm hề chèo quan họ, đến đời các cháu hãy cứ mạnh dạn sáng tạo đi. Cơm không ăn thì gạo còn đấy.
“Việc làm mới của tôi không chỉ trong nghệ thuật mà từ những nếp nhà. Nhà năm gian, ba gian các cụ đã làm, thì mình phải làm cái gì mới chứ. Bảo tàng Đạo Mẫu cũng đã ra đời như thế, tôi thích thay đổi, muốn kiến trúc vừa mới mẻ, vừa ra hồn cốt của Việt Nam”
Trong cuốn tự truyện, bác nhắc đến việc chuyển từ Đoàn Dân ca Quan họ Hà Bắc sang Viện nghiên cứu để phát triển, lưu giữ. Vậy tình trạng của nghệ thuật dân tộc đang ra sao, thưa bác?
Khoảng năm 1969 tôi có nghe tin về việc thành lập một viện nghiên cứu về dân ca, quan họ, nhưng tới nay cũng chưa xúc tiến, quan họ vẫn tồn tại, bây giờ đã có Nhà hát Dân ca Quan họ Bắc Ninh rồi.
Tôi là người giữ lại cái cổ và vẫn luôn luôn phải hoạt động, luôn luôn phải phát triển, thích đổi mới. Mình làm từ nghiên cứu, sưu tầm, thể nghiệm và phát triển chứ không bao giờ dậm chân tại chỗ. Văn hóa dân gian của các cụ ta rất hay, khám phá cả cuộc đời cũng chẳng hết được. Các cụ để lại cho con cháu một sào ruộng thì con phải làm ra một mẫu, thế mới gọi là con có hiếu.

Về mặt cổ điển, tôi đều học qua và nắm rất bài bản, từ đó mới phát triển, sáng tạo, kết hợp tất cả từ âm nhạc, nghệ thuật. Bây giờ công nghiệp hóa văn hóa, mỗi ngày một khác. Ví dụ, ngày xưa hát văn ở trong đền, nay sân khấu hóa có những nơi tới 3.000 người, hát ở Concert Quốc gia có đến 30.000 khán giả, tức là ta đã lịch sử hóa sân khấu hóa thành công. Việc làm mới của tôi không chỉ trong nghệ thuật mà từ những nếp nhà. Nhà năm gian, ba gian các cụ đã làm, thì mình phải làm cái gì mới chứ. Bảo tàng Đạo Mẫu cũng đã ra đời như thế, tôi thích thay đổi, muốn kiến trúc vừa mới mẻ, vừa ra hồn cốt của Việt Nam.

Ngày xưa bác nói: “Hề là cười đời và tự cười mình”. Đó là những cái cười cổ điển, thế thời hiện đại thì bác nghĩ là người ta sẽ cười cái gì? Và hiện nay, bác thấy nghệ thuật dân gian có cần chuyển mình để hợp xu thế?
Năm nào tôi cũng diễn một tác phẩm hài ở chương trình Xuân Phát Tài, các nhà sáng tác cũng ít, kịch bản mới rất hiếm dù trả cao. Nhìn lại, tất cả những vai hề cổ hay hề mới đều có ý nghĩa giáo dục, đố tục giảng thanh, lấy cái cũ để nói cái mới.
Về ý kiến riêng, tôi cho rằng tiếng khóc chào đời thì giống nhau, nhưng tiếng cười thì mỗi dân tộc, mỗi vùng miền lại khác nhau. Tôi không có bình luận về những tiếng cười nay, chỉ có cái gì mình làm, đều nhất tâm, cố gắng hết mình. Nghệ sĩ là nghề làm dâu trăm họ, hàng nghìn người mà mình làm cho 100 người cười thì cũng đã tạo được niềm vui cho đời rồi.

Cái vốn dân tộc là thứ không bao giờ mất được, trừ khi người Việt Nam mất. Để chuyển mình thì tôi luôn động viên lớp trẻ ngày nay, nhiệt tình hỗ trợ cho các cháu, nâng đỡ các cháu, sai gì thì vỗ về, tinh thần xây dựng chứ không miệt thị. Các cháu hãy sáng tạo, dù hay dở, người khen người chê, nhưng chỉ cần làm bằng hết thiện tâm thì người ta sẽ nhìn thấy hết. Mọi công trình của mình đều làm bằng nhất tâm, là người ta sẽ cảm nhận được. Nhiều người lên thăm khu nhà tôi, họ xúc động vì thấy sự cẩn thận, chi li từng tí, từng góc, tôi cũng yên tâm vì đã cố gắng hết mình rồi.
“Tôi muốn hướng đến việc làm những tác phẩm mới mẻ, bùng nổ, chứ không lặp lại những cái xưa”
Có kỷ niệm gì kể từ khi bác xây dựng Bảo tàng Đạo Mẫu?
Hiện nay, bảo tàng vẫn đóng cửa, và thuộc quyền quản lý tư nhân. Hôm vừa rồi, có ba đứa cháu học trong Sài Gòn nhắn tin cho tôi, muốn ra Bắc nghiên cứu về Đạo Mẫu. Tôi bảo bác bận lắm, không làm gì được. Thế mà hôm mùng 3–4 tôi ngồi ở nhà bên, các cháu nó – từ trong Sài Gòn ra tới đây – mở cái cổng. Bình thường cửa đóng, nay các cháu còn qua được thì chắc là nhân duyên rồi. Tôi chỉ các cháu sách vở của các cụ nghiên cứu về Đạo Mẫu, rồi chỉ xuống trung tâm Thờ Mẫu Phủ Dầy.

Bác có hay “trốn khách” không?
Công việc nhiều mệt lắm, mà tôi già rồi. Tuổi này kể cả đi diễn tôi cũng không muốn đi nữa. Buổi diễn hôm nọ có các bà ao ước diễn, đi cùng một chuyến xa mà nắng nôi, cáu gắt đủ điều. Các bà thấy không, nghề diễn hào quang trên sân khấu một phần, rồi cả cảnh nắng mưa, đi khắp vùng miền. Mới biểu diễn đã vất vả, còn đây là cả một cuộc đời 50 năm.
Có vài bên muốn làm kỷ niệm cho tôi biểu diễn, tôi cũng phải chọn lọc. Tôi muốn hướng đến việc làm những tác phẩm mới mẻ, bùng nổ, chứ không lặp lại những cái xưa. Hay thì tôi sẽ cố, còn không tôi lại tư vấn cho mọi người làm trên cái vốn truyền thống. Tính tôi tham công tiếc việc, nhưng không cố đấm ăn xôi làm gì.
“Tôi luôn coi nghệ thuật như một thứ hàng hóa – hàng làm ra là phải bán mua, phải có người ăn người xem […]. Như cấy lúa phải ra rạ, lấy vợ là phải có con, đi làm là phải ra tiền, nghệ sĩ là phải có tác phẩm để lại cho cuộc đời. Tác phẩm phải có tác động đến xã hội – tôi luôn tâm niệm điều đó trong những công việc mình làm”
Bác chia sẻ rằng mình cũng đã làm hết sức, vậy có điều gì bác mãn nguyện nhất?
Cả cuộc đời lúc nào tôi cũng chỉ hoạt động về văn hóa dân tộc, tất cả các tác phẩm, bằng chứng đã ghi lại thành video, có trên đĩa, trên mạng, có những cái đã thu hát những làn điệu xẩm cổ từ năm 1994 rồi. Kho tàng cổ điển đã có hết rồi. Một cách tự nhiên, tôi đã xây kho tàng đó từ những năm 16 tuổi, dù hoàn cảnh gia đình khó khăn. Bởi ngay từ đầu, tôi luôn coi nghệ thuật như một thứ hàng hóa – hàng làm ra là phải bán mua, phải có người ăn người xem. Bây giờ nếp hoạt động ấy lại phù hợp với cảnh công nghiệp hóa, phát triển văn hóa của Nhà nước. Từ năm 16 tuổi tôi đã làm đĩa và video để đi buôn, đi bán, mời người nọ kia cùng thu, cùng lưu giữ vốn xưa, bởi cái khó, ló cái khôn, phải đi buôn, đi bán lấy tiền ăn học. Như cấy lúa phải ra rạ, lấy vợ là phải có con, đi làm là phải ra tiền, nghệ sĩ là phải có tác phẩm để lại cho cuộc đời. Tác phẩm phải có tác động đến xã hội – tôi luôn tâm niệm điều đó trong những công việc mình làm.

Đã đầu 70, tôi vẫn còn thích nhiều thứ, nhưng sức người thường thì không kham được. Mỗi năm tuổi một lớn hơn, có những điều mình mong muốn thì nó đã muộn rồi, tuổi này tôi chỉ cần sức khoẻ thôi. Ấy thế mà mùng 1 Tết năm nay tôi lại có một cuốn phim điện ảnh lần đầu tiên. Phim tên là “Mùi phở”, xoay quanh chuyện văn hóa, chủ đề gia đình, có cả người từ Bắc chí Nam tham gia đấy. Phở là món quốc hồn quốc túy của dân tộc, trong đó cũng có văn hóa, phim thì pha chút chèo, chút xẩm, mong muốn lớn nhất là để văn hóa Việt lan tỏa ra thế giới. Tuổi tôi già rồi, chưa nói trước được điều gì mà phải chờ Tết mới biết phim có thành tựu không.

Và điều gì bác muốn mà chưa làm được?
Tôi có máu tham. Tháng 4 tới là tròn 50 năm làm nghệ thuật, vì tôi đánh dấu mốc từ chuyến công tác đầu tiên vào tháng 4 năm 1976. Bây giờ, tôi điều mong muốn chỉ là muốn sức khỏe trở lại cái năm 18, 20 thôi. Trẻ lại khoảng 20 tuổi nữa là tôi thích rồi.
Giờ xã hội hiện đại như thế này, tôi lại muốn có những cái khác nữa, thế nhưng thôi không mong muốn nữa bởi vì mình già rồi, bây giờ muốn quá sức chẳng may các cụ gọi đi lạnh toát luôn thì sao. Thôi! (cười)
Nên đừng hỏi tôi về việc muốn, tôi chẳng muốn gì cả. Tôi muốn đi chơi.


Bác thích đi đâu?
Tôi cũng chẳng đi đâu, vì thế giới đi khắp rồi. Tôi cứ đi quanh nhà thôi.
Ngày xưa bác để tóc đen bóng, từ khi nào bác bắt đầu thay đổi phong cách của mình?
Ngày xưa tôi đẹp giai lắm. Trai Bắc Ninh, tay không chẳng có gì mà lấy được bà nhà Hà Nội gốc. Tôi chơi đúng một xưa là tóc bồng bềnh, quần loe lãng tử. Bây giờ có tuổi, đi ra đường phải đội mũ thì tóc xẹp xuống, tôi cạo luôn. Lâu cũng thành quen.

Và từ khi nào bác gắn mình với hình ảnh áo dài?
Những câu hát dân ca như dòng sữa mẹ từ ngày xưa. Mình đã trót yêu và say đắm với các loại hình nghệ thuật, được ăn lộc ở văn hóa dân tộc, thì cố hết mình về nó. Văn hóa cũng từ những áo dài, văn hóa không cứ là cái gì to tát mà có thể từ cổ phục. Cổ phục Việt có nét đẹp riêng, phù hợp với mình.
Trong buổi chụp với L’OFFICIEL Hommes, tôi chủ yếu mặc áo dài với comple. Áo dài từ các nhà thiết kế, comple thì do con rể, con trai tôi may cho. Mình cứ mặc vào, đáng ra mình xấu thì mọi người lại khen mình đẹp hơn mọi khi. (cười)

Cảm ơn nghệ sĩ Xuân Hinh, chúc bác sức khỏe và luôn giữ hạnh phúc, tiếng cười trong cuộc sống!
Bài: Y My
Hình ảnh: Minh Nhon




