ART & CULTURE

Hành trình Phùng Phẩm – Trầm lặng lẫn đam mê

Jan 22, 2026 | By LUXUO Vietnam

Phùng Phẩm – người gắn bó suốt đời với tranh in khắc gỗ, sơn mài và sơn khắc, và hành trình nghệ thuật đặc sắc của họa sĩ. Từ tuổi thơ lưu lạc, tham gia kháng chiến, cho đến những năm tháng học tập, lao động và sáng tác trong điều kiện khắc nghiệt, Phùng Phẩm luôn giữ ngọn lửa đam mê nghệ thuật cháy bền bỉ. Tác phẩm của ông giàu nội lực sáng tạo, khai thác các chủ đề sâu sắc như tình yêu thể xác, chiến tranh, người lao động, phụ nữ và ký ức cá nhân. Dù sử dụng bảng màu tối giản và tạo hình cô đọng, ông vẫn thể hiện được cảm xúc mạnh mẽ và chiều sâu nhân văn. Phùng Phẩm không ngại đối diện các chủ đề cấm kỵ, luôn tìm tòi thử nghiệm kỹ thuật mới với tinh thần nghệ sĩ độc lập. Triển lãm tại Thăng Long Art Gallery năm 2023 là một dấu son trong sự nghiệp lâu dài của ông.

Vài chục năm trước, người viết từng tình cờ bắt gặp một bức in khắc gỗ gây ấn tượng mạnh tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, nhưng phải nhiều năm sau mới có cơ duyên được gặp gỡ trực tiếp Phùng Phẩm, một con người bên ngoài trầm lặng nhưng bên trong luôn âm ỉ ngọn lửa sáng tạo không ngừng nghỉ. Ở tuổi chín mươi, ông vẫn giữ phong thái điềm tĩnh, sâu sắc và đầy nội lực. Bài viết này dựa chủ yếu trên tư liệu từ những cuộc phỏng vấn thực hiện tại nhà riêng của ông ở Hà Nội năm 2006, đồng thời bổ sung thông tin từ các bài phỏng vấn của báo chí tại những triển lãm gần đây. Hình ảnh tác phẩm được ghi nhận tại không gian sống và làm việc của họa sĩ, từ các nhà sưu tập đã sở hữu tranh của ông, cũng như từ triển lãm tại Thang Long Art Gallery năm 2023.

Tuổi thơ lưu lạc và những năm tháng kháng chiến

Họa sĩ Phùng Phẩm, hình chân dung chụp vào tháng 8 năm 2006

Những năm tháng lưu lạc thuở ấu thơ của Phùng Phẩm không phải là quá lạ vào thời kỳ đó, nhưng chúng dường như đã góp phần tạo nên con người Phùng Phẩm với một thế giới nội tâm phức tạp, sâu sắc và nhạy cảm. Sinh ra trong một gia đình khá giả vào năm 1932, ông là người thứ năm trong tổng số chín người con của cụ ông Phùng Văn Kính và cụ bà Đặng Thị Thanh ở huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Yên (Vĩnh Phúc). Phùng Phẩm sống cùng cô trong suốt bốn năm tiểu học tại Sơn Tây, cho đến khi khởi nghĩa bùng nổ vào năm 1943-1944 và Việt Minh tiến về làng trong bối cảnh Đế quốc Nhật Bản bắt đầu tan rã từ năm 1945. Cậu bé Phùng Phẩm chứng kiến và hào hứng tham gia các cuộc biểu tình. Ngay sau đó, chiến sự nổ ra từ Hà Nội đến Việt Trì và quân Pháp bắt đầu tấn công Việt Minh. Phùng Phẩm gia nhập Sở Thông tin tỉnh Vĩnh Yên và tham gia vào công tác tuyên truyền thông qua việc viết các khẩu hiệu như “Ta nhất định thắng”, “Địch nhất định thua”, “Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi”. Đó là những ngày tháng đầy nhiệt huyết và máu lửa. 

Năm 1947, mới mười ba tuổi đời, Phùng Phẩm lên chiến khu Việt Bắc nằm ở phía Tây Bắc Hà Nội. Trong năm năm tiếp theo, ông tham gia phong trào kháng chiến với nhiều nhiệm vụ khác nhau ở năm tỉnh chiến khu. Năm 1951, ông được cử sang Quế Lâm ở miền Nam Trung Quốc để học về sư phạm tại một trong những ngôi trường đang có hàng nghìn sinh viên Việt Nam theo học. Cũng chính tại đây, ông đã gặp người thầy và họa sĩ Nguyễn Khang (1916-1989), người đã khiến Phùng Phẩm nhận ra ước vọng trở thành họa sĩ của mình. Ông quay lại Hà Nội sau khi thủ đô được giải phòng vào năm 1954 và công tác tại Sở Văn hóa tỉnh Hải Dương, dạy các khóa đồ họa ngắn hạn (một tháng) cho viên chức từ cấp huyện và xã. Có chút thời gian rảnh nào là ông dành cho việc sáng tác các bức bích họa trong điều kiện họa phẩm vô cùng eo hẹp. “Những ngày tháng huyền thoại. Những ngày tháng của một thời đã xa”, ông chia sẻ. 

Con đường học tập và những thử thách thời cuộc

Năm 1955-1956, Phùng Phẩm về tỉnh Hà Tây dạy đồ họa trong chương trình cải cách giáo dục, nhưng có thời gian là ông lại đạp xe mang các tác phẩm của mình về Hà Nội để xin ý kiến của các họa sĩ như Sỹ Ngọc (1919-1990) và Diệp Minh Châu (1919- khoảng 2003), vốn đang giảng dạy tại trường mỹ thuật mới được mở lại tại Hà Nội. Phùng Phẩm muốn xem tranh của mình có so được với các sinh viên mỹ thuật chính quy của các họa sĩ hay không. Luôn công nhận ảnh hưởng của những bậc thầy như Nguyễn Phan Chánh (1892-1984), Trần Văn Cẩn (1910-1994) và Thang Trần Phềnh (1895-1972), song chính kiến thức về đồ họa của ông cũng như việc tiếp cận với trường phái lập thể sau này đã tạo nên bản sắc và sức sống riêng cho các tác phẩm của Phùng Phẩm. Tranh của ông cũng chịu một số ảnh hưởng khác như nghệ thuật Nhật Bản – đặc biệt trong cách thể hiện một số nét mặt và kiểu tóc – và trường phái hiện thực xã hội mà ông chỉ dùng khi khắc họa hình tượng người lao động (sẽ được phân tích thêm trong phần sau của bài viết). Phùng Phẩm muốn tạo ra những tác phẩm dễ hiểu và có tác động mạnh về thị giác; ông không thích những đường nét mềm mại, yểu điệu hay các gam màu nhẹ nhàng, mơ hồ.   

Phải mất gần mười năm, đến tận 1968, Phùng Phẩm mới có cơ hội theo học mỹ thuật một cách chính quy trong một khóa bốn năm, bao gồm hai năm đại cương và hai năm chuyên ngành, tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam (nay là Đại học Mỹ thuật Việt Nam). Vào thời kì này, sáng tạo nghệ thuật phải đi theo định hướng chính trị; kỉ luật Đảng và lý lịch cá nhân mới là những yếu tố quan trọng hàng đầu. Năm 1968 cũng là khi Mỹ bắt đầu chiến dịch ném bom miềm Bắc, dẫn đến việc sơ tán khỏi Hà Nội. “Hiếm có khi nào sinh viên khổ như thời đó”, Phùng Phẩm kể lại. Trong hoàn cảnh đó, các lớp học được chuyển về tỉnh Thái Nguyên và Phùng Phẩm đã hoàn thành hai năm học đại cương tại đây.  


Xem thêm:

The Modern Collectible Issue: Tranh từ các cuộc đấu giá – một canh bạc hay một món quà?


Những năm tháng mưu sinh và khoảnh khắc ngọn lửa sáng tạo bừng cháy

Mọi dự định bỗng sụp đổ khi Phùng Phẩm hăm hở chuẩn bị bước vào hai năm chuyên ngành. Việc học tập của ông bị kết thúc; không có đào tạo chuyên ngành và cũng chẳng có tốt nghiệp. Phùng Phẩm không muốn kể về giai đoạn này, song có một điều chắc chắn là ước vọng trở thành họa sĩ của ông không hề bị lung lay. Phùng Phẩm quay lại Hà Nội và tìm được việc tại Xưởng phim Hoạt hình. Một số tác phẩm của ông trong mười năm công tác tại đây vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Hồi tưởng lại thời kì này, Phùng Phẩm chia sẻ “cuộc đời rốt cuộc quay quanh cái bát cơm; phải chịu thôi”. Ông lúc này vừa tròn ba mươi sáu tuổi, độc thân, không tiền đồ.  

Giai đoạn khó khăn đầy trăn trở mà Phùng Phẩm phải trải qua cũng đồng thời là khi năng lượng sáng tạo trong ông bộc phát mà không có cách hay phương tiện để giải tỏa và biểu đạt. Song lửa nghệ sĩ trong ông không tắt; chính những năm tháng chờ đợi đó đã tôi luyện nên một sức sáng tạo nóng chảy, cuồng nhiệt, khám phá và thử nghiệm những chủ đề đa chiều, phức tạp, thậm chí mang tính nhạy cảm, cấm kị. Các chủ đề của ông tập trung vào phụ nữ, tình yêu thể xác, chiến tranh và những hậu quả của chiến tranh cùng các vấn đề xã hội. Ông quan tâm đặc biệt đến người lao động chân tay, đồng thời không bao giờ quên những trải nghiệm đầu đời sống cùng các cộng đồng dân tộc thiểu số ở miền cao. Ngoài ra, ông cũng thử nghiệm việc tái hiện những huyền thoại và truyền thuyết qua lăng kính của mình.  

Năm 1971, Phùng Phẩm cưới bà Nguyễn Thị Hào. Cùng năm đó, ông sáng tác bức in khắc gỗ đầu tiên mang tên “Nước bạc, cơm vàng”. Hôn nhân giúp xoa dịu nỗi đau tinh thần nhưng cũng đem lại nhiều nỗi lo lắng cơm áo gạo tiền. Ông giờ đã có vợ và sau một thời gian ngắn thêm hai con trai. “Chiến tranh là thời điểm khó khăn nhất… để có con.” Sau một ngày làm việc, ông về đến nhà thì bà đi làm và ông phải thay bà trông con. “Thời gian đâu nữa mà vẽ?”


Xem thêm:

“Trong Ngọc Trắng Ngà”: 35 bức tranh Đông Dương lần đầu tới Đà Nẵng

Họa sĩ Bùi Thanh Tâm: Người khoác tấm áo mới cho tranh dân gian


Những nốt trầm lộng lẫy qua tranh in khắc gỗ

Trong những năm đầu nghiệp vẽ của mình, Phùng Phẩm theo đuổi tranh in khắc gỗ vốn là một loại hình nghệ thuật truyền thống của Việt Nam với nguồn họa phẩm dễ kiếm. Trong nhiều thập kỉ sau đó, ông đã tạo ra một loạt các tác phẩm vừa sâu sắc vừa giàu tính thơ và sức sáng tạo của ông đã có những bước chuyển vượt trội. Trong bức chân dung Phan Bội Châu, hình ảnh người nghĩa sĩ râu dài, đeo kính nhìn ra trên một nền đen trống trải, bên cạnh một sợi dây thừng được kéo căng tượng trưng cho tình hình chính trị căng thẳng của nước nhà. Chỉ mình motif này – một sự tối giản gần như tuyệt đối về tạo hình – đã giúp truyển tải mạnh mẽ thông điệp của tác phẩm. 

Phan Bội Châu, in khắc gỗ, đen trắng, 56×34 cm. Bộ sưu tập Andrew & Ann Proctor

Tay nghề điêu luyện của Phùng Phẩm được thể hiện qua cách ông sử dụng không gian cùng các đường nét dứt khoát, các mảng họa tiết lớn và các tương phản mạnh. Với tranh in khắc gỗ, vốn được ông gọi là máu thịt của mình, Phùng Phẩm chỉ dùng đúng hai màu đen trắng, như trong bức “Phan Bội Châu” và “Vườn Xuân”. Sau này, với tranh sơn mài, ông bắt đầu khám phá và tận dụng sức mạnh của màu sắc, thường ưu ái các gam màu ấm như đỏ và vàng trên nền tối, dù đôi khi cũng kết hợp cùng đen và trắng.

Chải tóc, 2013, sơn mài, 120 x 80 cm. Bộ sưu tập Thang Long Art Gallery.

Bên cạnh những tác phẩm để lại dấu ấn chỉ với hai sắc đen trắng, Phùng Phẩm dễ dàng thuyết phục người xem với tài năng sử dụng màu của mình. Ví dụ như trong tác phẩm sơn mài “Chải Tóc” (2013), Phùng Phẩm đã sử dụng màu một cách đầy táo bạo và tự tin: cô gái ngồi thản nhiên trên chiếc ghế gỗ được vẽ bằng sắc xanh đậm huyền bí lẫn ánh vàng, nổi bật trên nền đỏ rực. Chính việc sử dụng hiệu quả một bảng màu tối giản đã giúp các tác phẩm của Phùng Phẩm trở nên mạnh và lạ về mặt bố cục. Nói về màu sắc, ta cũng không thể bỏ qua đốm đỏ vừa duyên dáng vừa dạn dĩ trên đôi môi của các cô gái trong nhiều tác phẩm của ông.

Bên Sau Bức Rèm, 2004, tranh in khắc gỗ đen trắng, 57 x 39 cm. Bộ sưu tập N.K. Long

Phùng Phẩm thường tiếp tục khám phá và đào sâu những chủ đề yêu thích của mình qua nhiều tác phẩm, ví dụ như chủ đề “gội đầu” trong bức “Quê Mới”. Bức in khắc gỗ này tái hiện một ngôi làng dưới ánh trăng: phía sau các nếp nhà và hàng rào tre, đứng đằng xa giữa bóng tối và ánh trăng là một cô gái khỏa thân cúi mình gội đầu trên một chiếc chậu, bên cạnh một bình nước bằng đá. Trong bố cục của bức tranh, cô chỉ là một bóng hình tình cờ nằm ở góc bên phải. Tuy nhiên, trong các tác phẩm sau như “Gội Đầu” (với một ảnh hưởng Nhật Bản rõ ràng) và “Bên Sau Bức Rèm”, hình ảnh cô gái chiếm một vị trí chủ đạo, nổi bật trên nền các họa tiết chạy ngang. Chủ đề này sau đó được ông tiếp tục tái hiện bằng chất liệu sơn mài với hai màu đen và vàng, với tác phẩm cùng mang tên “Gội Đầu”.

Thiếu nữ Hà Nội, in khắc gỗ, đen trắng, 58×73 cm. Bộ sưu tập N.K. Long

Các thế mạnh của Phùng Phẩm được thể hiện rõ qua loạt tranh vẽ những cô gái thành thị, với các kết cấu và họa tiết mang tính trang trí cao lan tỏa trên quần áo, mặt bàn, khăn trải bàn, bình lọ, rèm và ghế. Trong áo dài hay quần áo thời trang, với mái tóc chưa kịp chải hay các kiểu tóc ngắn tân thời, với bàn tay dài thanh thoát, móng tay được cắt tỉa cẩn thận, các cô gái này làm chủ không gian tác phẩm. Họ ngồi trên những chiếc ghế cao có lưng tựa, trầm tư suy nghĩ hay rôm rả trò chuyện, hong và chải tóc. Họ yểu điệu như làm mẫu, vươn người ngang bàn để chỉnh lại một bông hoa huệ tây trong lọ. Họ khoe dáng, đôi khi gần như khiêu khích người xem.

Trang Điểm, 2003, tranh in khắc gỗ đen trắng, 62 x 42 cm

Trong bức “Trang Điểm”, một tín đồ thời trang với dáng vẻ khá lẳng lơ liếc nhìn bóng mình trong chiếc gương tay. Khi được hỏi về nguyên mẫu của hàng loạt những tạo hình phụ nữ này, Phùng Phẩm nói rằng ông không dùng người mẫu mà chỉ vẽ theo trí tưởng tượng của mình, nhưng ta có thể thấy một số nhân vật nữ rất giống vợ của họa sĩ, từ dáng người cho đến khuôn mặt khi nhìn nghiêng. Phùng Phẩm chia sẻ rằng ông rất thích sáng tác theo chủ đề này, và có lẽ đây là chủ đề duy nhất khai thác những khía cạnh nhẹ nhàng, dung dị hơn trong cuộc sống trong những năm sau này của ông.

Tự Hào 2, tranh in khắc gỗ đen trắng, 84 x 50 cm. Bộ sưu tập N.K. Long

Bức in khắc gỗ “Tự Hào” khắc họa một thiếu nữ dân tộc Thái với phong cách như một cô gái thành thị, đặc biệt là đôi bàn tay với các móng tay được cắt tỉa kĩ lưỡng. Đây là một cách tiếp cận khá độc đáo đối với các họa sĩ Việt Nam vốn thường khắc họa các thiếu nữ dân tộc thiểu số trong bối cảnh văn hóa của họ. Dù Phùng Phẩm, cũng như nhiều họa sĩ tiền bối trước đó, chắc chắn đã sử dụng chất liệu từ những năm chung sống với các cộng đồng dân tộc thiểu số tại Tây Bắc, cách khắc họa độc nhất vô nhị này là sản phẩm trực tiếp của trí tưởng tượng dồi dào và khoáng đạt của ông.  

Sơn mài và sơn khắc cùng lối tạo hình phong phú hơn

Bên Hoa Huệ, 2008, sơn khắc, 120 x 80 cm. Bộ sưu tập Thang Long Art Gallery

Phải đến đầu những năm 90, hoàn cảnh gia đình mới cho phép Phùng Phẩm bắt đầu tiếp cận sơn mài, và ông đã kiếm một người thợ thủ công về dạy ông về sơn mài. Chỉ sau một thời gian ngắn, kĩ thuật sơn mài của Phùng Phẩm đã tiến bộ đến mức ông bắt đầu sáng tác song song tranh in khắc gỗ và sơn mài. Từ năm 2003, ông thêm sơn khắc vào vốn nghề của mình, sáng tác cùng lúc cả ba thể loại này. Kĩ thuật chạm trong tranh in khắc gỗ và tranh sơn khắc có nhiều điểm tương đồng, song tranh in khắc gỗ thường cho phép người họa sĩ đặt được mức độ chi tiết cao hơn nhiều bởi vật liệu gỗ của tranh in khắc gỗ dễ chạm trổ hơn so với vật liệu vóc của tranh sơn khắc. Hơn nữa, lớp vóc cần đủ dầy để có thể chạm trổ mà không động đến lớp gỗ lót và luôn dễ bị nứt hay rạn, đòi hỏi nhiều công sức hơn. Các mảng chạm sau đó được vẽ bằng màu acrylic, giống như bức “Bên Hoa Huệ”.

Chống Hạn, 1990, sơn mài, 113 x 133 cm. Bộ sưu tập Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam

 “Chống Hạn”, sáng tác năm 1990, là một trong những tranh sơn mài đầu tiên của Phùng Phẩm. Tác phẩm đã đoạt giải vàng tại Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc cùng năm đó. Những chiếc nón được cẩn trứng, nổi bật trên nền đen. Sau này, Phùng Phẩm chuyển sang dùng vàng và bạc thay vì vỏ trứng. Các lá vàng hay bạc được bóp vụn rồi rắc lên bề mặt sơn còn ướt.

Mưa Trên Tầng Than, 2005, sơn mài, 120 x 160 cm

Ra Khơi, 2005, sơn mài, 120 x 160 cm

Phùng Phẩm sử dụng vàng nhiều trong các tác phẩm sơn mài của mình, đôi khi để tạo điểm nhấn, song thường là để gây những hiệu ứng đặc biệt, ví dụ như trong bức “Mưa Trên Tầng Than”, khắc họa những công nhân mỏ đang gồng mình đẩy xe than dưới lớp mưa nặng hạt được thể hiện bởi sắc vàng xiên trong gió, và bức “Ra Khơi”, với cái nóng mặt trời được thể hiện thông qua bóng đổ của những con thuyền trên sắc vàng chói lòa của bờ cát.  

Góc nhìn nhân văn qua những nỗi đau được xoa dịu

Ngày Trở Về, 2000, tranh in khắc gỗ đen trắng, 61 x 46 cm. Bộ sưu tập N.K. Long

Những người lính trở về được Phùng Phẩm khắc họa với một chiều sâu chạm vào tâm can người xem. Bức in khắc gỗ “Ngày Trở Về” tái hiện một người phụ nữ tràn trề sự sống đang ôm chặt người đàn ông hai tay hai nạng, khuôn mặt xạm đen và cái nhìn trống rỗng như minh chứng cho sự thảm khốc của chiến tranh, vào cái thời mà PTSD (rối loạn căng thẳng sau sang chấn) còn là một khái niệm ít người hiểu, thậm chí chưa được công nhận. Bức in khắc gỗ “Tiễn đưa” – có thể được coi như cùng chùm tác phẩm với “Ngày Trở Về” – khắc họa sức mạnh nội tâm của người lính trên ngựa trong tư thế chuẩn bị lên đường, với bàn tay an ủi đặt trên vai người phụ nữ đang ngã quỵ trong đau đớn. Chủ đề này sau đó được ông tái hiện lại trong bức tranh sơn mài mang tên “Cuộc Chia Ly.” 

Vườn Xuân, 2003, tranh in khắc gỗ đen trắng, 59 x 39 cm

Phùng Phẩm khám phá tình yêu thể xác trong mọi cung bậc đam mê của nó một cách rất sáng tạo. Trong bức “Vườn Xuân”, trên nền cây lá xôn xao đầy tình ý là một cặp nam nữ trong cơn cuồng đắm nhục dục. Chỉ với hai sắc trắng đen, ông kết nối những vòng tay, khiến hai hòa thành một.

Nụ Hôn 1, sơn mài, 80 x 120 cm. Bộ sưu tập riêng

Cùng chủ đề này, Phùng Phẩm còn có những tác phẩm khác táo bạo, trực diện hơn. Trong ba phiên bản của bức tranh sơn mài “Nụ Hôn”, ta có thể thấy rõ ảnh hưởng của Picasso. Trong bức “Nụ Hôn 1”, chi tiết duy nhất chứng tỏ sự tồn tại của người nam là một mái tóc thẳng xõa xuống khi anh hạ sát mặt mình trên thân thể đầy khêu gợi của cô gái. Một số tác phẩm của Phùng Phẩm đối diện với những đề tài nhạy cảm, thường bị lảng tránh trong quá khứ.

Đứa Con Riêng, 2005, sơn mài, 140 x 240 cm. Bộ sưu tập Thang Long Art Gallery

Bức tranh sơn mài mang tên “Con Riêng” vẽ một bà mẹ đang cần mẫn tắm cho đứa con đã trưởng thành của mình. Trong tác phẩm tuyệt vời này, hình tượng bà mẹ với khuôn mặt vô cảm và đứa con với màu da khác biệt được khắc họa bằng các mảng màu đặc và bệt, góp phần nhấn mạnh hơn độ nghiêm trọng và tính nhạy cảm của chủ đề con lai.

Tắm, 2015, sơn mài, 91.5 x 110 cm. Bộ sưu tập Thang Long Art Gallery

Trong bức “Tắm”, họa sĩ sử dụng cùng một cách tiếp cận để mô tả một người phụ nữ ngồi gác chân trên sàn gạch, song với một cơ thể căng vặn như đang tập thể dục hơn là thư giãn dưới làn nước. Cách vẽ mảng khối khiến cơ thể của cô ta trở nên sống động hơn, ngược với cách sử dụng các mảng màu đặc và bệt trên cơ thể những người phụ nữ trong bức “Con Riêng”. Tắm là một chủ đề được Phùng Phẩm khai thác rất nhiều lần, từ những bức in khắc gỗ như “Bên Sau Bức Rèm”.  


Xem thêm:

Hoạ sỹ Lê Minh Phong và những bức tranh “tự thắp lên ánh sáng”

Bức tranh cổ của Gustav Klimt tái xuất sau 100 năm thất lạc


Phong cách đặc trưng và di sản nghệ thuật

Thiếu nữ và hoa (Young Maiden with Flowers), tranh khắc gỗ, đen trắng, 61 x 52,5 cm.

Thiếu nữ và hoa, tranh khắc gỗ, đen trắng, 61 x 52,5 cm. Bộ sưu tập Thang Long Art Gallery

Trong các tác phẩm về những người lao động chân tay của Phùng Phẩm, ta có thể thấy rõ ảnh hưởng của trường phái hiện thực xã hội, vốn chỉ xuất hiện duy nhất trong chùm tranh theo chủ đề này của ông. Đồng thời, Phùng Phẩm cũng mở rộng bảng màu của mình. Được khắc họa với những tỷ lệ lớn và hai màu đen trắng của các bản in khắc gỗ (không có trong phần tranh minh họa) hay các gam màu tươi sáng được ông yêu thích cho các tác phẩm sơn mài, Phùng Phẩm giải thích rằng đó là cách ông nâng cao phẩm giá cho hình tượng người lao động và công nhận vai trò kinh tế-xã hội quan trọng của họ trong xã hội. 

Như một nhà chưng cất tài ba, Phùng Phẩm là bậc thầy của việc tiếp cận một chủ đề với những biểu đạt ở cường độ cao thông qua một sự tối giản về cử chỉ và màu sắc. Ông luôn sắp đặt và tái sắp đặt, diễn giải và tái diễn giải, giảm thiểu, xoay vặn. Dấu ấn của ông là những tạo hình sạch và thủ pháp lạnh.

Ngày Chủ Nhật (Sunday), 2010, lacquer, 120 x 160 cm.Thang Long Art Gallery Collection

Ngày Chủ Nhật, 2010, tranh sơn mài, 120 x 160 cm. Bộ sưu tập Thang Long Art Gallery

Bên cạnh các bức in khắc gỗ xuất sắc chỉ sử dụng hai màu trắng đen, các gam màu hạn chế được ông sử dụng cho các tác phẩm sơn mài đã tạo ra những hiệu ứng mạnh, thậm chí bùng nổ. Ông đã sáng tác với một sự quyết tâm hiếm thấy, vượt qua nhiều trở ngại trong cuộc sống và sự nghiệp mà không hề mất đi quan điểm sáng tạo của mình. Ông không né tránh những chủ đề cấm kị mà tiếp cận chúng với một sự nhạy cảm và sâu sắc hiếm có. Trên đời này chỉ có duy nhất một Phùng Phẩm. Vào cuối năm 2023, Thang Long Art Gallery tại Hà Nội đã tổ chức một triển lãm để giới thiệu những cột mốc chính trong sự nghiệp của ông. Sự kiện đã thành công vang dội, với tất cả các tác phẩm được nhà sưu tập và người yêu thích nghệ thuật tìm mua. 

Bài: Kerry Nguyễn–Long

 
Back to top